Chọn định lượng giấy in chuyển nhiệt theo loại vải
Giấy in chuyển nhiệt 35, 50, 70 hay 100 gsm? Bảng tra định lượng theo loại vải, lượng mực, tốc độ máy và độ ẩm phòng in, kèm cách in thử.
Quỳnh Như
Tư vấn thiết bị in chuyển nhiệt ·

Định lượng giấy in chuyển nhiệt nên chọn theo lượng mực của hình in trước tiên, sau đó mới tới tốc độ máy, loại vải và độ ẩm phòng in. Khoảng tham khảo: hình ít mực, máy chạy nhanh dùng 35–50 gsm; áo thể thao, đồng phục phổ thông dùng 55–70 gsm; hình nền đen lớn, màu phủ kín hoặc giấy có keo dùng 80–100 gsm.
Không có một định lượng hợp với mọi đơn hàng. Bài viết dưới đây giải thích từng yếu tố, đưa ra bảng tra theo sản phẩm và cách in thử để chốt định lượng cho xưởng.
Định lượng giấy (gsm) là gì?
gsm là viết tắt của gram trên mét vuông, tức một mét vuông giấy nặng bao nhiêu gram. Giấy 50 gsm nhẹ và mỏng hơn giấy 100 gsm. Với giấy in chuyển nhiệt, định lượng ảnh hưởng tới ba thứ:
- Khả năng nhận mực: giấy dày giữ được nhiều mực hơn trước khi bị gợn sóng hoặc thấm ra mặt sau.
- Độ ổn định khi chạy máy: giấy dày cứng hơn, ít nhăn khi kéo qua máy và khi ép.
- Chi phí: cùng chiều dài, giấy dày đắt hơn. Một cuộn giấy mỏng cùng khối lượng cho nhiều mét hơn.
Bốn yếu tố quyết định định lượng giấy
1. Lượng mực trên hình in
Đây là yếu tố cần xét trước tiên. Một chiếc áo trắng có logo nhỏ chỉ phủ mực vài phần trăm diện tích, trong khi áo nền đen toàn thân phủ gần kín mặt giấy với lượng mực cao ở mọi điểm. Hình càng nhiều mảng đậm, đặc biệt là đen và các màu pha từ nhiều kênh mực, thì giấy càng cần dày.
2. Tốc độ máy và khả năng sấy
Máy in công nghiệp tốc độ cao như Apsaras G5 (8 đầu Epson I3200, nhận giấy 30–100 gsm) hay Novares Roma 8 (8 đầu Kyocera) đều có dàn sấy, nên dùng được giấy mỏng cho hình ít mực. Khi in nhanh hình nhiều mực trên giấy mỏng, giấy dễ chưa khô kịp lúc cuộn lại, gây dính mực sang lớp giấy bên trên.
3. Loại vải
Vải polyester dệt kim ổn định (thun lạnh, vải mè) dễ in. Vải co giãn nhiều như vải pha spandex dễ xê dịch khi ép, nên thường cần giấy có keo, loại này phần lớn có định lượng khoảng 85–105 gsm. Vải dày, bề mặt sần cần ép lâu hơn, giấy dày giữ phẳng tốt hơn trong thời gian ép dài.
4. Độ ẩm phòng in
Giấy hút ẩm sẽ mềm và mất độ cứng. Một số nhà sản xuất giấy khuyến nghị: độ ẩm dưới khoảng 45% thì có thể dùng giấy dưới 80 gsm, độ ẩm trên khoảng 70% thì nên dùng giấy trên 80 gsm. Với khí hậu Việt Nam, cách hiệu quả hơn là giữ phòng in ở 40–60% bằng điều hòa hoặc máy hút ẩm, rồi chọn định lượng theo lượng mực.
Bảng tra định lượng theo loại sản phẩm
| Sản phẩm, loại vải | Đặc điểm hình in | Định lượng tham khảo |
|---|---|---|
| Thời trang hoa văn nhỏ, nền sáng | Phủ mực ít đến trung bình | 45–60 gsm |
| Áo đồng phục, áo lớp nền sáng | Logo, chữ, mảng màu vừa phải | 50–70 gsm |
| Áo bóng đá, áo thể thao thun lạnh, vải mè | Phủ kín thân áo, nhiều màu | 55–70 gsm |
| Áo nền đen, nền màu đậm toàn thân | Phủ kín, lượng mực cao | 80–100 gsm |
| Cờ, banner vải, backdrop | Mảng màu lớn, đậm | 70–100 gsm |
| Chăn ga, rèm, vải nội thất | Phủ kín khổ vải, chạy dài | 60–100 gsm tùy độ đậm |
| Đồ bơi, đồ đạp xe, legging, vải co giãn | Vải dễ xê dịch khi ép | Giấy có keo, khoảng 85–105 gsm |
Dấu hiệu đang dùng sai định lượng
Giấy quá mỏng so với lượng mực
- Giấy gợn sóng hoặc phồng lên ở những mảng in đậm.
- Mực thấm ra mặt sau giấy, có thể in vết lên trục hoặc bàn ép.
- Đầu in quẹt vào chỗ giấy phồng, để lại vệt mực.
- Nét mảnh, chữ nhỏ bị lem sau khi ép.
Giấy dày hơn mức cần
- Hình in ra không đẹp hơn so với giấy mỏng hơn một bậc, nhưng chi phí giấy mỗi mét cao hơn.
- Với hình ít mực chạy số lượng lớn, phần chênh lệch này cộng dồn thành khoản đáng kể.
Nhiều lỗi trên còn có nguyên nhân khác ngoài giấy. Xem thêm bài các lỗi in chuyển nhiệt thường gặp.
Mực nồng độ cao có giúp dùng giấy mỏng hơn không?
Mực nồng độ cao chứa nhiều thuốc nhuộm hơn trong cùng một lượng mực, nên để đạt cùng độ đậm, máy có thể phun ít mực hơn. Lượng nước trên giấy giảm theo, nhờ đó giấy ít bị quá tải. Tuy vậy, kết quả còn phụ thuộc vào cách cài giới hạn mực và ICC profile, nên vẫn cần in thử. Đọc thêm bài mực in chuyển nhiệt nồng độ cao.
Cách in thử để chốt định lượng giấy
- Chuẩn bị file thử lấy từ chính mẫu khó của xưởng: mảng đen lớn, màu đậm phủ kín, chữ nhỏ, nét mảnh và chuyển màu.
- In trên hai hoặc ba định lượng liền kề, ví dụ 50, 70 và 90 gsm, cùng chế độ in, cùng giới hạn mực.
- Quan sát giấy sau khi in: có gợn sóng không, khô kịp trước khi cuộn không, mặt sau có vết mực không.
- Ép trên đúng loại vải của đơn hàng, cùng nhiệt độ và thời gian. Nhiệt độ tham khảo có trong bài nhiệt độ và thời gian ép chuyển nhiệt.
- So màu và độ nét giữa các mẫu, rồi chọn định lượng mỏng nhất mà vẫn đạt yêu cầu.
Nên lưu lại mẫu vải đã duyệt cùng thông tin giấy, mực, chế độ in để làm chuẩn cho các lô sau. Khi đổi bất kỳ yếu tố nào, chỉ đổi một yếu tố mỗi lần để biết nguyên nhân nếu kết quả thay đổi.
Giấy Như cung cấp
Giấy in chuyển nhiệt dạng cuộn khổ 1,52 m; 1,62 m; 1,72 m và 1,82 m, định lượng từ 35 đến 100 gsm. Cách chọn khổ giấy và bảo quản giấy được trình bày trong bài tổng quan giấy in chuyển nhiệt: cách chọn khổ, định lượng và loại giấy.
Câu hỏi thường gặp
- Giấy in chuyển nhiệt dày hơn có cho màu đẹp hơn không?
- Không hẳn. Giấy dày nhận được nhiều mực hơn nên hợp với hình mảng đậm, nhưng với hình ít mực thì giấy mỏng vẫn cho màu tương đương mà chi phí thấp hơn. Lớp phủ, mực, nhiệt độ ép và độ ẩm cũng ảnh hưởng lớn tới màu.
- In áo bóng đá nên dùng giấy bao nhiêu gsm?
- Áo bóng đá vải thun lạnh, vải mè thường dùng giấy khoảng 55–70 gsm. Mẫu áo nền đen hoặc phủ màu đậm toàn thân nên cân nhắc giấy 80–100 gsm và in thử trước khi chạy số lượng lớn.
- Giấy in chuyển nhiệt bị gợn sóng sau khi in là do đâu?
- Nguyên nhân thường gặp là lượng mực vượt quá khả năng nhận mực của giấy, hoặc giấy đã hút ẩm. Cách xử lý là tăng định lượng giấy, giảm giới hạn mực trong phần mềm RIP và giữ độ ẩm phòng in khoảng 40–60%.
- Độ ẩm phòng in ảnh hưởng thế nào tới việc chọn định lượng giấy?
- Giấy mỏng dễ mềm và gợn sóng khi phòng in ẩm, nên ở phòng in độ ẩm cao thường phải dùng giấy dày hơn. Cách bền vững hơn là kiểm soát độ ẩm phòng in rồi chọn định lượng theo lượng mực.






